
CÔNG TY TNHH CƠ ĐIỆN TỬ QUANG HUY BÁCH KHOA
Chuyên cung cấp dây chuyền sản xuất
Dây chuyền sản xuất thức ăn thủy sản
Dây chuyền sản xuất thức ăn gia súc
Dây chuyền sản xuất mỡ cá basa
Dây chuyền sản xuất Mỡ cá basa, cá basa
Dây chuyền rang sấy caphe
Dây chuyền sản xuất Tole, Xà gỗ lợp nhà
ĐỊA CHỈ: 68/20E QUANG TRUNG, F12, Q. GÒ VẤP, TP.HCM
TEL: (08)35920291 - (08)66547275
FAX: (08)37191499
Dây chuyền máy rang sấy cà phê
Thiết kế lắp đặt tủ điện
Hệ thống điều khiển bằng SCADA - PLC - Máy tính
Dây chuyền sản xuất mỡ cá basa được sản xuất theo phương pháp
sấy gián tiếp bằng hơi nước bão hòa với nhiệt độ trung bình
từ 160-170 thông qua máy sấy dạng đĩa quay.
Hiện tại, dây chuyền sản xuất bột cà do công ty chúng tôi
chế tạo có 2 dạng sau :
I/ Dùng cho loại cá có nhiều dầu: nguyên liệu cá được đưa
qua hấp ép để tách nước, tách dầu và chưng cất nước đạm của
cá sau đó qua sây, nghiền và đóng bao.
Hệ thống máy và thiết bị gồm có: Máy hấp cá, máy ép trục vịt,
máy sấy. Hệ thống chưng cất nước đạm cá, máy phân ly ba
thành phần ( dầu cá, nước, đạm ), sàng quay, máy nghiền, hệ
thống khử mùi...
II/ Dùng cho loại cá không dầu hoặc ít dầu: nguyên liệu cá
được đưa trực tiếp vào máy sấy đĩa để sấy khô , sau đó qua
làm nguội nghiền và sấy khô
Dây chuyền sản xuất mỡ cá basa
Cá tươi nguyên liệu => Hấp chín lien tục => Vắt bớt nước
liên tục => Sấy khô => Làm nguội lần 1 => nghiền mịn => Làm
nguội lần 2 => Thành phẩm => Đóng bao => Bảo quản.
Thiết bị bao gồm:
- Băng tải nạp liệu
- Phòng hấp liên tục bằng hơi
- Hệ thống sấy khô
- Hệ thống làm nguội
- Hệ hống nghiền mịn
- Lò hơi: 2.500 kg/h; P=10Kg
- Hệt hống đóng bao bằng thủ công hoặc bằng cân tự động
Những điều chưa biết về nguyên liệu mỡ cá trong sản xuất
biodiesel ở Việt Nam
Trong điều kiện Việt Nam, mỡ cá đang được chú ý như là một
nguồn nguyên liệu sản xuất biodiesel. Tuy nhiên, để có thể
đưa vào sản xuất công nghiệp, việc khảo sát nguồn nguyên
liệu này rất quan trọng.
1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ TRA VÀ CÁ BASA
Trong thực tế, hiện vẫn còn sự lẫn lộn giữa tên gọi hai loài
cá basa và cá tra. Vì vậy, để khảo sát một cách chính xác
nguồn nguyên liệu mỡ cá cho sản xuất biodiesel, cần phải
phân biệt rõ đặc điểm sinh học của hai loài cá này để nhận
dạng được ảnh hưởng của môi trường nuôi trồng đến chất lượng
mỡ cá, cũng như các vấn đề phải xử lý cho sản xuất biodiesel
công nghiệp. Cá basa (tên tiếng Anh: Yellowtail catfish) là
loài được nuôi truyền thống trong bè trên sông Mekong ở Việt
Nam, Lào, Thái Lan và Campuchia. Cá tra (tên tiếng Anh:
Shutchi catfish) trước đây được nuôi nhiều trong ao, ở đồng
bằng Nam bộ Việt Nam. Về mặt phân loại, 2 loài này thuộc bộ
cá nheo (Siluriformes), họ cá tra (Pangasidae), loài
Pangasius. Cá tra (Pangasius hypophthalmus) và cá basa (Pangasius
bocourti) đều là cá da trơn (không vẩy). Cá sống chủ yếu ở
nước ngọt, chịu được nước lợ nhẹ (độ muối dưới 10%) và nước
phèn (pH>4). Cá tra có cơ quan hô hấp phụ, có thể hô hấp
bằng bóng khí và da, nên chịu đựng được môi trường nước
thiếu oxy hòa tan. Ngược lại, cá basa còn gọi là cá bụng vì
có lá mỡ rất lớn, không có cơ quan hô hấp phụ, chịu đựng kém
ở môi trường nước có hàm lượng oxy hòa tan thấp. Ngoài ra,
cá tra có khả năng thích nghi với nhiều loại thức ăn như mùn
bã hữu cơ, cám, rau, động vật đáy, thức ăn hỗn hợp. Thức ăn
cho cá basa thường là hỗn hợp tấm, cám, rau và cá vụn (nấu
chín) nên phù hợp với nuôi dưỡng trong bè trên sông nước
chảy mạnh. Cá tra có thể nuôi trong môi trường chật hẹp với
mật độ cao (50 con/m2) như bè, ao hầm, gần đây là nuôi cồn
và đăng quần cũng cho hiệu quả cao.
2. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN NGÀNH NUÔI CÁ TRA VÀ BASA Ở VIỆT NAM
Giống cá tra và basa nuôi hiện nay có hai nguồn: vớt trong
tự nhiên và sinh sản nhân tạo. Cá tra và cá basa không đẻ tự
nhiên trong ao nuôi. Cá có bãi đẻ tự nhiên ở Campuchia, cá
bột theo dòng nước về Việt Nam. Hàng năm vào mùa mưa, người
ta dùng một loại lưới hình phễu gọi là “đáy” để vớt cá bột
trên sông và ương nuôi trong ao, hầm thành cá giống cung cấp
cho các bè nuôi. Sản lượng vớt cá bột ngày càng giảm do biến
động của điều kiện môi trường và sự khai thác quá mức của
con người. Việc nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá tra được bắt
đầu từ năm 1978 và cá ba sa từ năm 1990. Năm 1996, Trường
Đaị học Cần Thơ, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II,
Công ty Agifish An giang đã nghiên cứu đẻ nhân tạo cá basa
thành công, chủ động giải quyết con giống cho nghề nuôi cá
basa. Ngành nuôi cá tra và basa phát triển rất nhanh trong
những năm vừa qua do có thị trường xuất khẩu. Vì điều kiện
chế độ nuôi dễ dàng, giá trị xuất khẩu cao, nên dù giá thấp
hơn, cá tra vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong xuất khẩu cá da
trơn ở Việt Nam (theo VASEP, khoảng 90%). Nếu năm 2004, tổng
sản lượng cá tra, ba sa của các tỉnh ĐBSCL là 264.436 tấn,
thì năm 2006 là 825.000 tấn và dự báo đến cuối năm 2007 sẽ
lên đến khoảng một triệu tấn, bằng sản lượng quy hoạch cho
đến năm 2010 theo dự đoán của ngành Thủy sản. Như vậy, sẽ có
khoảng 600.000 tấn phụ phẩm sau xuất khẩu cần được nghiên
cứu ứng dụng để làm tăng hiệu quả sử dụng từ nguồn lợi thủy
sản này.
3. QUY TRÌNH SẢN XUẤT MỠ TỪ CÁ TRA VÀ CÁ BASA
Tại các nhà máy chế biến thủy sản, cá tươi được lóc hai
miếng phi-lê để chế biến xuất khẩu. Phần còn lại chiếm
khoảng 60% gồm da, xương, đầu, bụng, mỡ, ruột, kỳ vi.... Sau
khi chiên, mỡ bụng của cá được loại nước để được mỡ chất
lượng cao. Có thể tiếp tục tinh luyện loại mỡ này bằng
phương pháp vật lý hoặc hóa học để sử dụng trong thực phẩm.
Các phụ phẩm còn lại như da, đầu, xương, kỳ vi… được chế
biến thành bột hoặc mỡ cá sử dụng chủ yếu làm thức ăn gia
súc. Hiện nay có hai phương pháp để sản xuất mỡ cá sau khi
xuất khẩu philê cá hoặc từ cá tươi, đó là phương pháp truyền
thống hoặc hiện đại.
3.1. Phương pháp truyền thống
Quy trình sản xuất thủ công hiện nay ở hầu hết các nhà máy
chế biến thủy sản ở các tỉnh ĐBSCL như ở hình 3. Việc sản
xuất mỡ và bột cá từ phế phẩm cá tra và cá basa hiện nay
đang diễn ra tự phát, quy mô nhỏ, phương pháp thủ công nên
tỷ lệ thu hồi rất thấp, khoảng từ 10% - 16% so với 20% - 22%
bằng phương pháp công nghiệp. Mỡ nấu từ phương pháp này
thường có hàm lượng nước, axit tự do và cặn cao, màu sắc
không đều, có mùi tanh. Việc áp dụng công nghệ thông thường
để sản xuất biodiesel từ loại mỡ này với xúc tác kiềm không
thu được hiệu quả cao. Nước là nguyên nhân tạo xà phòng
trong quá trình sản xuất gây khó khăn và làm tăng chi phí
cho quá trình tinh chế biodiesel. Ngoài ra, nước còn tạo môi
trường tốt cho vi sinh vật phát triển trong quá trình tồn
trữ và lưu kho, làm cho mỡ dễ bị oxy hóa, ôi và có mùi khó
chịu. Cặn làm tắc nghẽn đường ống khi bơm nguyên liệu vào
bồn phản ứng, làm giảm hiệu suất của sản phẩm. Tỷ lệ thu hồi
thấp còn làm tăng giá thành của mỡ và ảnh hưởng nghiêm trọng
đến môi trường. Nguyên liệu mỡ cá được sản xuất bằng phương
pháp này khi sử dụng làm nguyên liệu cho sản xuất biodiesel
phải thực hiện qua hai giai đoạn. Ở giai đoạn đầu tiên, xúc
tác axit được dùng để chuyển axit béo tự do có trong mỡ cá
thành biodiesel, sau đó tiếp tục sử dụng xúc tác kiềm để
chuyển hóa hoàn toàn mỡ cá thành biodiesel. Sản xuất hai
giai đoạn sẽ không có tính kinh tế vì làm tăng giá thành của
sản phẩm. Hiện nay, công nghệ chế biến mỡ cá được áp dụng
rộng rãi trên thế giới không nấu trực tiếp mà chỉ gia nhiệt
sau khi đã ép để loại trừ các phụ phẩm rắn (hình 4). Ưu điểm
của quy trình này là không sử dụng trực tiếp nhiệt độ nên mỡ
cá có màu sáng hơn, quá trình ly tâm và lọc cho mỡ có hàm
lượng nước, axit béo tự do và cặn thấp hơn. Phương pháp này
có hiệu suất thu hồi mỡ cao, thời gian sản xuất ngắn, nên
giá thành của mỡ thấp, nhưng chi phí đầu tư thiết bị lại khá
lớn. Để sử dụng hiệu quả nguyên liệu sản xuất biodiesel từ
mỡ cá tra và basa, Nhà nước cần có chính sách khuyến khích
các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu đầu tư thay đổi
công nghệ chế biến mỡ và bột cá.
3.2. Phương pháp hiện đại
Công nghệ ly tâm ba pha là phương pháp hiện đại nhất hiện
nay trong sản xuất mỡ cá (hình 4). Phương pháp này ly tâm
cho ra mỡ, nước và bột cá sau khi ép, nên tỷ lệ thu hồi mỡ
cao, sản phẩm có độ nhớt, hàm lượng nước, cặn và axit béo tự
do thấp, màu sáng, ít tốn kém năng lượng và lao động, giảm
tối thiểu lượng nước sử dụng nên không gây ảnh hưởng đến môi
trường. Tuy nhiên, kinh phí đầu tư thiết bị khá cao là một
bài toán khó ngay cả đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu
thủy sản lớn muốn thay đổi công nghệ để tăng giá trị phụ
phẩm của cá tra và basa sau khi xuất khẩu philê. Mỡ cá được
sản xuất từ phương pháp này sẽ thuận lợi và hiệu quả cao khi
sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất biodiesel với công nghệ
đơn giản, một giai đoạn với xúc tác kiềm như NaOH hoặc KOH.
4. TRIỂN VỌNG CỦA VIỆC SẢN XUẤT BIODIESEL TỪ MỠ CÁ TRA VÀ
BASA
Sau khi phân tích thành phần hóa học của mỡ cá, hàm lượng
axit béo không no chủ yếu là axit oleic trong mỡ cá tra
chiếm 55,5% và mỡ cá basa chiếm 62%. Kết quả này cho thấy sử
dụng mỡ cá tra và cá basa làm nguyên liệu để sản xuất
biodiesel. Tuy nhiên, mỡ cá basa làm nguyên liệu sản xuất
biodiesel có nhiều ưu điểm hơn so với mỡ cá tra, do có hàm
lượng axit oleic cao hơn (hình 5), nên biodiesel đi từ mỡ cá
basa sử dụng tốt hơn ở nhiệt độ thấp. Sản xuất biodiesel từ
mỡ cá tra và basa là một hướng đi có triển vọng của ĐBSCL và
có nhiều khả năng sản xuất quy mô lớn vì ở đây có nguồn
nguyên liệu dồi dào, ổn định, giá rẻ và có tiềm năng phát
triển. Việc đầu tư sản xuất biodiesel tại chỗ từ phụ phẩm
của cá sau khi xuất khẩu philê sẽ mở ra một ngành công
nghiệp mới cho vùng này, tạo ra một nguồn nhiên liệu mới
không ô nhiễm và có thể tái tạo được phục vụ sản xuất, đời
sống cư dân trong vùng.
Lê Thị Thanh Hương, Trần Đăng Giao KHCN số thán

Bảo trì bảo dưỡng và sữa chữa
Các hệ điều khiển tự động relay, contactor, bộ điều khiển PLC, biến tần, màn hình lập trình HMI
Các hệ thống thủy lực, khí nén
Bảo trì hệ thống, dây chuyền chế biến bột cá và dây chuyền chế biến thức ăn gia súc , thủy sản (Cá, Tôm)
Dây chuyền sản xuất Mỡ cá basa, cá basa
Hê thống phân phối điện MCB, MCCB, Contactor, Delay
Các hệ thống sấy và hệ thống lạnh công nghiệp
HOTLINE: 0903963630 - 0909681088
Dây chuyền sản xuất thức ăn gia súc
Dây chuyền chế biến bột cá biển (Tân Tiến - Vũng Tàu)
Dây chuyền chế biến bột cá mỡ cá basa - ba sa
Mỡ cá tra đã qua sơ chế xuất khẩu được giá
Mỡ cá tra đã qua sơ chế đang được nhiều nhà máy chế biến cá
tra xuất khẩu tại TP Cần Thơ bán ra với giá 14.000 đồng/kg.
Tại nhà máy chế biến thủy sản Bình An (khu công nghiệp Trà
Nóc) mỗi ngày sản xuất được khoảng 30 tấn mỡ cá tra, nhưng
không đủ đáp ứng cho khách hàng…
Còn theo Hiệp hội Thủy sản TP Cần Thơ, mỗi tháng các nhà máy
chế biến thủy sản ở Cần Thơ chế biến được trên 4.000 tấn mỡ
cá, chưa kể các cơ sở chuyên thu gom phụ phẩm của các nhà
máy chế biến thủy sản để chế biến mỡ cá xuất khẩu, nhưng đều
có đầu ra ổn định.
Được biết, Trung Quốc, Hồng Công, Đài Loan đang là những thị
trường tiêu thụ mỡ cá tra rất mạnh. Sản phẩm mỡ cá tra qua
sơ chế được mua về để sản xuất biodiesel (dầu sinh học) thay
thế dầu diesel, vừa hạn chế ô nhiễm môi trường, vừa đối phó
với cơn sốt giá dầu hiện nay…